Truy cập nội dung luôn

Tin tức - Thông báo Tin tức - Thông báo

Quay lại

Ngành lạnh và ĐHKK Việt Nam với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực

                                                                         

1. Đặt vấn đề

Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với thách thức phát triển ngành lạnh và ĐHKK đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường trong ngữ cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang từng bước được hiện thực hóa và sẽ tạo những thay đổi lớn về cung, cầu lao động cũng như cơ cấu lao động. Yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thời mở cửa cũng đòi hỏi ngành lạnh và ĐHKK nước ta phải không ngừng phát triển, đổi mới và hiện đại hóa, trong đó, nhân tố có ý nghĩa quyết định là con người và công nghệ. Nguồn nhân lực cho ngành Lạnh và ĐHKK nước ta hiện nay khá dồi dào về số lượng nhưng cũng đang còn những hạn chế đáng kể về chất lượng, mất cân đối về tỷ lệ thầy – thợ, sự tụt hậu về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực.

Năm 2017 chúng ta có khoảng 200 trường Đại học, hơn 900 trường cao đẳng, trung cấp nghề, thực hiện xét tuyển đầu vào theo kết quả thi tốt nghiệp, tức là không thi, không có điểm sàn, thậm chí không có bảng điểm, chỉ cần bằng tốt nghiệp PTTH (nguồn: VTV1 31-8-2017). Trong đó số trường đào tạo Đại học, cao đẳng và dậy nghề Nhiệt - Điện lạnh – ĐHKK cũng lên tới nhiều chục trường. Tính trung bình, cứ 2 thí sinh dự thi thì có 1 đỗ đại học. Một dấu hiệu đáng mừng là tâm lý thích làm thầy hơn làm thợ đã thay đổi nhiều, ví dụ đối với khối học sinh nông thôn theo thống kê đến tháng 8-2017 có đến 100.000 trúng tuyển đại học đã quyết định vào các trường cao đẳng nghề, tập trung nhiều vào các nghề cơ điện, Điện công nghiệp, Điện tử, cơ khí, ô tô, khi ra trường có bằng kỹ sư.

Tuy nhiên, theo Bộ Lao động Thương binh Xã hội thì tính đến đầu năm 2017 có 200.000 cử nhân chưa có việc làm (nguồn: VTV1 03-10-2017). Lý giải về hiện tượng này TS Nguyễn Minh Đường-UV Hội đồng quốc gai giáo dục và phát triển nhân lực-đã cho rằng công tác đào tạo của ta chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực, nhiều học sinh sinh viên tốt nghiệp không có việc làm, trong khi các doanh nghiệp cần nhiều nhưng không tuyển dụng được . Hiện nay hai bộ phận tuyển dụng và đào tạo còn tách rời nhau. Doanh nghiệp chê sinh viên vì i)lý do đầu tiên là chất lượng, thừa cử nhân kỹ sư do chất lượng chưa đáp ứng. ii)Quy mô và cơ cấu ngành nghề không phù hợp, ví dụ thừa kế toán, quản trị kinh doanh (các trường dễ mở vì chi phí ít, lợi nhuận cao mà kinh phí nhà nước cấp cho các ngành nghề thì như nhau). Tóm lại là chúng ta mắc 3 sai lầm dễ thấy: i)Nhà trường chạy theo lợi nhuận, không biết chắc nhu cầu, ii) Nhà nước đầu tư không cân đối, không sát ngành nghề đào tạo, iii) Mất cân đối nguồn nhân lực.

Theo giáo sư Nguyễn Minh Thuyết thí hiện nay sinh viên ra trường còn rất yếu và thiếu kỹ năng sống, khả năng làm việc nhóm và trình độ chuyên môn, không biết mình yếu từ đâu, cũng không có tinh thần học hỏi. Tuy vậy, theo những thống kê mới nhất thì tình hình hiện nay đã và đang có những dấu hiệu khả quan. Ví dụ trang Web của trường ĐHBK Hà Nội đưa tin ngày 27-7-2017: 91% sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 6 tháng và được làm đúng nghề. Lương trung bình 3-60 triệu đ/tháng. Hiện nay trường tuyển sinh hàng năm khoảng 6000 SV chính quy, 1500 cao học và hơn 100 nghiên cứu sinh.

Với các cơ sở đào tạo thuộc khối chuyên ngành Lạnh và ĐHKK những năm gần đây có những bước tiến đáng kể cả về quy mô đào tạo, số lượng tuyển sinh và chất lượng đầu ra cũng như cơ hội việc làm, cơ hội thăng tiến và mức lương sau khi tốt nghiệp. Chỉ tính riêng 5 trường cao đẳng phía Bắc, năm học 2017-2018 đã tuyển được gần 2000 SV (riêng trường CĐ cơ điện và xây dựng Bắc ninh đã có 1100 SV), 9 trường ĐH công lập hàng đầu cả nước về đào tạo ngành nhiệt-lạnh cũng tuyển được 1863 SV. Khối ngành Nhiệt Lạnh ở các trường đại học năm nay có điểm đầu vào khá cao so với các mặt bằng chung, như: ĐHBK Tp HCM 25,75, ĐHBK Hà Nội 24,75, ĐHSP KT Tp HCM 23,5, ĐH Xây Dựng HN 22,…Các trường khối cao đẳng nghề cũng khuông mấy khó khăn để xét tuyển đủ chỉ tiêu mà chất lượng đầu vào ở nhiều trường cũng được đánh giá là khá tốt. Hầu như không có hiện tượng “tồn kho” nhân lực sau khi được đào tạo.

Có được những thành quả như vậy không thể không nói tới vai trò của các doanh nghiệp đã không chỉ tạo điều kiện cho học sinh sinh viên tham quan, thực tập mà nhiều đơn vị còn thường xuyên dành những suất học bổng khuyến học cho sinh viên như các tập đoàn, công ty: Daikin, LG, Carrier, Mitsubishi, Trane, Coteccons, Polyco, EVN và nhiều doanh nghiệp khác. Trong năm qua, Hội lạnh và ĐHKK với sự đồng hành của Công ty Daikin Việt Nam và hai doanh nghiệp tại Nam Định cùng một số cơ sở đào tạo đã tổ chức hội nghị hướng nghiệp, giới thiệu ngành nghề tại trường THPT Nguyễn Khuyến được đánh giá là rất thành công. Kỳ tuyển sinh năm học 2017-2018 số thí sinh Nam Định đỗ vào ngành Nhiệt-Lạnh ĐHBK Hà Nội chiếm tỷ lệ cao nhất. Khó khăn chung được các cơ sở đào tạo băn khoăn nhiều là làm sao để không phải kéo dài thời gian đào tạo mà vẫn đảm bảo chất lượng, cung cấp đầy đủ cơ sở lý thuyết cần thiết và tăng thời lượng thực hành. Làm thế nào để kết nối với các cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nâng cao chất lượng giáo trình và đội ngũ thầy giáo,…

Ngành Lạnh và ĐHKK chúng ta tham gia đào tạo nhân lực thuộc các lĩnh vực cơ nhiệt, năng lượng và điện lạnh là khối ngành chuyên môn không có bộ hay cơ quan ngang bộ quản ngành, chỉ có cơ quan quản lý chuyên môn là Bộ Giáo dục Đào tạo, Tổng cục dậy nghề và các bộ ngành khác nên thiếu đi sự điều hướng thống nhất cho toàn bộ các trường trong khối. Trong ngữ cảnh đó, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo hội viên, Hội lạnh và ĐHKK tổ chức Hội nghị Lạnh và ĐHKK năm 2017 với chủ đề: “Ngành Lạnh và ĐHKK Việt Nam với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực”. Đây là cơ hội gặp gỡ giao lưu giữa những người làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh lạnh và ĐHKK, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo nhân lực Lạnh và ĐHKK trong phạm vi cả nước (ở hai hội nghị tổ chức tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh).

2. Nội dung chính đề xuất được đề cập tại Hội nghị

  • Đánh giá thực trạng phát triển của ngành và công tác đào tạo nguồn nhân lực ở các cấp độ nghề, đại học và sau đại học. Nhận dạng, làm rõ những thuận lợi, khó khăn, bất cập hiện nay để đề xuất tìm biện pháp khắc phục.

  • Làm thế nào để thích ứng với xu hướng giảm thời gian đào tạo mà vẫn đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho kỷ nguyên số-CM 4.0, tăng thời lượng thực hành mà vẫn đủ thời gian cần thiết đảm bảo và tăng cường kiến thức chuyên sâu, tư duy logic, sáng tạo làm bệ phóng cho những ý tưởng và hoài bão mới của người học, đáp ứng được yêu cầu thực tế và thăng tiến trong nghề nghiệp. 

  • Trao đổi về nội dung các chương trình đào tạo đang sử dụng hiện nay tại các cơ sở đào tạo, hướng tới đổi mới chương trình đào tạo theo phương pháp tiếp cận CDIO (Conseiving-ý tưởng, Designing-thiết kế, Implementing-triển khai, Operating-vận hành) đang gây chú ý trong bối cảnh toàn cầu hóa: phát triển toàn diện không chỉ về kiến thức (chú ý coi trọng kiến thức cơ sở ngành) mà cả kỹ năng mềm (soft skill) như các kỹ năng giao tiếp trực tiếp hay giao tiếp gián tiếp qua văn bản, hội họa, khả năng tổ chức, lãnh đạo và làm việc nhóm,…  

  • Mạn đàm, trao đổi về những vấn đề cập nhật khoa học công nghệ trong lĩnh vực chuyên môn Lạnh ĐHKK, nội dung chương trình đào tạo và phương pháp truyền đạt làm sao để hướng cho người học có khả năng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, hình thành tư duy tích lũy kinh nghiệm, rèn kỹ năng ở bậc dạy nghề và tư duy logic, sáng tạo, làm chủ công nghệ ở bậc đại học.   

  • Vai trò của Hội Lạnh và ĐHKK cần có trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành.

Hội KHKT Lạnh và ĐHKK Việt Nam, mái nhà chung đoàn kết tất cả các thành viên cá nhân và tập thể, phấn đấu vì chuyên ngành có vai trò quan trọng trong đời sống và các ngành sản xuất kinh doanh thuộc mọi lĩnh vực của nền kinh tế, luôn sẵn sàng làm cầu nối giữa các cơ sở đào tạo và các đơn vị sản xuất, kinh doanh nhằm cung cấp cho người học những hiểu biết thực tế và rèn luyện kỹ năng nghề thông qua các mối liên kết và hợp đồng đào tạo. Tuy nhiên để làm được điều đó cần có sự quan tâm phối hợp đa phương để tìm ra các hình thức và nội dung hoạt động thiết thực, hiệu quả.  

Mặt khác, với những đặc điểm của chuyên ngành như đã nói ở trên, chúng tôi không nghĩ rằng Hội Lạnh và ĐHKK Việt Nam cũng như Hội nghị hôm nay có thể định ra một khuôn mẫu chung cho tất cả các cơ sở đào tạo trong ngành áp dụng nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tìm thấy mẫu số chung của ngành nhiệt – lạnh hay lạnh , ĐHKK và điện  - lạnh, đặc biệt là ở nội dung cốt lõi của chương trình đào tạo, cho dù là ở trình độ Đại học, sau đại học hay dậy nghề. Từ đó chúng tôi thấy cần nhấn mạnh, đi sâu/bổ sung một số nội dung cụ thể trình bày ở mục 3 tiếp sau.

3. Một số định hướng nội dung chương trình đào tạo

  • Tăng số giờ thực hành, thí nghiệm. Đây là giải pháp tăng hiệu quả giáo dục tư duy tích lũy kinh nghiệm làm cho người học hiểu rõ và làm sâu sắc hơn cơ sở lý thuyết, nó đặc biệt quan trọng với khối cao đẳng hay trung cấp nghề cũng như với cả các trường đại học đào tạo theo định hướng thực hành.

  • Coi trọng cơ sở kỹ thuật chung của ngành Nhiệt  - Lạnh, đồng thời nhấn mạnh đặc điểm của công nghệ nhiệt, công nghệ Lạnh - Điều hòa không khí, chu trình thuận của máy năng lượng, chu trình ngược của máy lạnh và bơm nhiệt, làm rõ vai trò và hiệu quả tiết kiệm năng lượng của bơm nhiệt. Những đồ thị nhiệt động thường dùng cho tính toán nghiên cứu trong ngành nhiệt-lạnh như các đồ thị I-d hay T-d, lgp-i cần được giới thiệu kỹ hơn, thực hành sử dụng thành thạo cho cả sinh viên và học sinh các trường nghề. Những môn cơ sở cốt lõi của ngành như Nhiệt động học, Truyền nhiệt, Cơ học chất lưu, Kỹ thuật cháy và những môn cơ sở kỹ thuật khác như Kỹ thuật Điện, điện tử, Tự động điều khiển các quá trình nhiệt-lạnh,…là những chìa khóa quan trọng mở đường cho tư duy logic, sáng tạo và đột phá tối cần thiết cho giáo dục đại học và sau đại học khối ngành nhiệt - lạnh. Vì vậy không nên bình quân định khối lượng cho nó như các mô đun và môn học khác, mà phải được ưu tiên chú ý hàng đầu.

Cũng cần nhấn mạnh rằng nhiệt và lạnh có cùng bản chất khoa học, chỉ khác nhau về phạm vi nhiệt độ. Tuy nhiên, với công nghệ nhiệt và công nghệ lạnh thì lại là câu chuyện khác, tránh quan niệm chung chung, truyền đạt nhầm lẫn theo kiểu “vơ đũa cả nắm”, bởi, ví dụ, cách nhiệt lạnh khác nhiều với cách nhiệt nóng, công nghệ bảo quản lạnh và bảo quản nóng lại khác nhau về nhiều phương diện,….

  • Tăng thời lượng và nâng cao chất lượng truyền đạt các nguyên lý nhiệt động, chú ý giáo dục nguyên lý II nhiệt động, nhấn mạnh đặc tính chất lượng của nhiệt năng, quá trình thực-không thuận nghịch, sự xuống cấp của năng lượng và vai trò của nó trong tính toán hiệu quả thực của các quá trình và thiết bị, đánh giá tác động môi trường.

Cách mạng 4.0 đòi hỏi người học phải được tích hợp các kiến thức tin học, tự động hóa, mạng thông tin,…với những hiểu biết chuyên môn sâu sắc về đối tượng điều khiển, với đặc thù của năng lượng nhiệt là sở hữu không chỉ đặc tính số lượng mà còn có cả mặt chất lượng của năng lượng. Đặc tính “không giống ai” này của nhiệt năng đòi hỏi chúng ta phải áp dụng cả nguyên lý II nhiệt động, đặc biệt là trong các bài toán đánh giá so sánh, tối ưu hóa, thông qua cách đặt bài toán, đưa vào các điều kiện biên và các ràng buộc cần thiết để có lời giải chính xác khoa học. Nếu chỉ dừng lại ở nguyên lý I, chúng ta sẽ gặp không ít trường hợp trong ngành nhiệt-lạnh “nói vậy mà không phải vậy” nên không thể cho ra những đáp án phù hợp. Ví dụ như không thể đưa ra kết luận từ nguyên lý I về cân bằng năng lượng của bơm nhiệt QK = N + Q0 rằng nhiệt năng QK tỏa ra ở dàn ngưng chủ yếu là nhờ nhiệt Q0 nhận vào ở dàn lạnh (vì ví dụ 4=1+3, kW, thì chính 1 kW điện chứ không phải 3kW lạnh làm nên 4 kW nhiệt!), hay khi sưởi ấm bằng điện thì 1kW điện biến hoàn toàn thành 1kW nhiệt với hiệu quả 100% lại không phải là cao, còn phép tính tổng số lượng điện năng, cơ năng và nhiệt năng ở các nhiệt độ khác nhau kiểu như khi ta tính cân bằng năng lượng cho bơm nhiệt,…là không lôgic và không chính xác khoa học. Cũng giống như hệ số hiệu quả lạnh COP thực chất là hiệu suất lạnh nhưng lại thường lớn hơn 100%!, v.v. Cũng nhờ nguyên lý II mà chúng ta hiểu rõ cơ sở khoa học lý giải điện đắt hơn nhiệt, lạnh đắt hơn nhiệt và làm thế nào để thiết kế, quản lý vận hành các hệ thống nhiệt-lạnh ít tổn thất nhất,... 

  • Trong chương trình đào tạo cần bố trí thời lượng trải nghiệm thực tế đủ lớn để thực hiên phương châm gắn nhà trường với xã hội, liên kết cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng đầu ra của sinh viên /học sinh tốt nghiệp. Cần đưa người học sớm tiếp cận với thực tế nghề nghiệp.

Mặt khác cũng phải nói thêm rằng chúng ta rất mong có sự thông hiểu, cảm thông của người tuyển dụng và cơ sở sử dụng nhân lực. Cơ sở nào cũng đòi hỏi ứng viên phải có 2 năm kinh nghiệm thì người tốt nghiệp sẽ bắt đầu từ đâu đây? Hơn nữa cũng phải thấy rằng cơ sở đào tạo cố gắng mấy cũng không thể trang bị cho người học đủ những hiểu biết tường tận những model máy móc cụ thể của các nhãn hàng khác nhau, điều đó sẽ được cập nhật không khó khi được tiếp cận nếu người học có được những kiến thức cơ sở vững chắc đầy đủ.

4. Lời kết

Trong diễn văn khai mạc APEC 2017 Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã kêu gọi các nước châu Á - Thái bình dương đầu tư mạnh mẽ hơn vào lĩnh vực giáo dục đào tạo. Hy vọng sau hội nghị này cũng sẽ xuất hiện những bước chuyển biến mới trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành lạnh và ĐHKK trong cả nước với những nhân tố mới như:   i) Người học không chỉ được cung cấp không chỉ các kiến thức khoa học công nghệ mà cả các kỹ năng cần thiết khác. ii) Liên kết đào tạo giữa nhà trường với các doanh nghiệp, sớm đưa người học vào tiếp xúc với thực tại sản xuất. iii) Đưa giáo dục chất lượng năng lượng nhiệt cùng nguyên lý II nhiệt động vào nội dung các môn Nhiệt động và Nhiệt kỹ thuật, trước hết là ngay từ đội ngũ giáo viên. Hội Lạnh và ĐHKK sẵn sàng kết nối, trợ giúp các cơ sở có nhu cầu tổ chức seminar học thuật về chủ đề này. iv) Coi trọng công tác hướng nghiệp để không chỉ đáp ứng số lượng mà cả chất lượng đầu vào làm cơ sở nâng cao chất lượng đầu ra trong công tác đào tạo.

GS. Phạm Văn Tùy (Chủ tịch Hội đồng khoa học, Hội KHKT Lạnh và ĐHKK Việt Nam)

Báo cáo được trình bày trong Hội nghị khoa học về đào tạo nhân lực ngành Lạnh và ĐHKK do Hội Lạnh Việt Nam tổ chức tháng 11 năm 2017.                                                                                                    

Sự kiện sắp diễn ra Sự kiện sắp diễn ra

1 2 3 ... 121 Next

Thư viện Media Thư viện Media

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

5 1 9 8 0 7
Đang online: 46
Hôm nay: 670
Trong tuần: 0
Trong tháng: 5798