Truy cập nội dung luôn

NCKH & CGCN NCKH & CGCN

Quay lại

Bảo vệ môi trường trong phát triển nhiệt điện than

QĐND - Phát triển nhiệt điện than (NĐT) là giải pháp quan trọng đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng cao ở nước ta. Tuy nhiên, phát triển NĐT cũng đi kèm với nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi công tác bảo vệ môi trường phải được thực hiện nghiêm ngặt. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với PGS, TS Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Nhiệt Việt Nam xung quanh vấn đề này.

Phóng viên (PV): Xin ông cho biết vị trí, vai trò của NĐT trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia?

PGS, TS Trương Duy Nghĩa: Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), năm 2014, NĐT chiếm 41% tổng sản lượng điện thế giới, gấp 2 lần nhiệt điện khí, 3 lần thủy điện, 4 lần điện hạt nhân, 10 lần điện tái tạo. Hiện nay, Việt Nam đã khai thác gần hết nguồn thủy năng. Trong khi đó, sản lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo còn chiếm tỷ trọng nhỏ, giá thành sản xuất cao, dự án điện hạt nhân đã tạm dừng. Do vậy, NĐT vẫn được coi là hướng phát triển chủ đạo. Bên cạnh đó, đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, nguồn năng lượng này có giá thành phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế. Ngoài ra, khả năng huy động công suất điện của NĐT rất lớn và không lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên như thủy điện, điện gió và điện mặt trời.

PGS, TS Trương Duy Nghĩa. 

 

PV: Một số nước đã tuyên bố đóng cửa nhà máy NĐT do ảnh hưởng môi trường; quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

PGS, TS Trương Duy Nghĩa: Một nhà máy NĐT có thể đốt 3-4 triệu tấn than/năm, thải ra tro xỉ và tro bụi. Khi tiêu thụ lượng than lớn, các nhà máy sẽ thải ra khí độc như CO2, SO2, NOX. Tuy nhiên, các quan điểm cho rằng nhà máy NĐT gây ô nhiễm môi trường chỉ đúng một phần vì hiện nay có rất nhiều công nghệ hiện đại xử lý chất thải từ nhà máy NĐT. Chúng ta phải đánh giá dựa trên tro xỉ được xử lý như thế nào, nồng độ chất độc phát thải vào môi trường là bao nhiêu mới có thể đưa ra kết luận chính xác. Đối với một số nước lớn đóng cửa nhà máy NĐT, nguyên nhân thứ nhất là do những nhà máy này đã hết niên hạn sử dụng (niên hạn trung bình là 30 năm). Lý do thứ hai là nhu cầu điện năng của các nước này đã đến giai đoạn bão hòa. Những nước hiện nay hạn chế dần NĐT và chú trọng phát triển năng lượng tái tạo đều là những nước đã phát triển, có tiềm lực kinh tế.

Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh. Ảnh: Mạnh Hưng 

PV: Vậy các nhà máy NĐT sử dụng những giải pháp công nghệ gì để xử lý chất thải, tránh gây ô nhiễm môi trường, thưa ông?

PGS, TS Trương Duy Nghĩa: Từ nhiều năm nay, công nghệ xử lý chất thải trong các nhà máy NĐT của Việt Nam đã ngang tầm thế giới. Theo đó, tro bụi được xử lý bằng hệ thống lọc bụi tĩnh điện hiệu suất đạt trên 99,75%. Do vậy, lượng tro đã được thu hồi gần hết, chỉ còn một lượng rất nhỏ theo ống khói thoát ra ngoài không khí. Trong khi đó, biện pháp tối ưu nhất giải quyết vấn đề tro xỉ hiện nay là tận dụng lượng tro xỉ thải ra làm nguyên vật liệu xây dựng. Một số nhà máy NĐT hiện đã và đang liên kết với các công ty xây dựng tận dụng nguồn xỉ này làm chất liên kết gia cố các công trình giao thông, sản xuất gạch không nung, bê tông nhẹ… với tổng mức tiêu thụ có thể lên đến hàng chục triệu tấn tro xỉ/năm. Trong trường hợp không được tận dụng làm vật liệu xây dựng, tro xỉ sẽ được đưa ra bãi thải xỉ bằng hệ thống đường ống kín, sục nước để nén chặt tro không bị bay theo gió khi ra bãi thải. Đặc biệt, ống khói của các nhà máy NĐT được xây dựng 10 năm trở lại đây đều có chiều cao từ 200 đến 250m. Với chiều cao đó, phát tán của tro, khí trong không gian có thể đi xa từ 50 đến 100km. Việc làm tăng nồng độ của các chất này trong không khí là rất ít. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thực hiện hệ thống quan trắc, giám sát liên tục 24/24 giờ về mức độ ô nhiễm. Với trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ như hiện nay, chúng ta không cần quá lo ngại về việc gây ra ô nhiễm của các nhà máy NĐT, điều quan trọng là áp dụng công nghệ cần gắn chặt với quản lý. Nếu buông lỏng quản lý chắc chắn sự cố đáng tiếc sẽ xảy ra.

PV: Theo ông, các nhà máy NĐT hiện đang gặp khó khăn gì trong quá trình phát triển, hướng giải quyết như thế nào?

PGS, TS Trương Duy Nghĩa: Việt Nam chưa xây dựng được bộ quy chuẩn riêng mang tính đặc thù cho các nhà máy NĐT. Nước ta cũng chưa có được một ngành công nghiệp chế tạo nhà máy điện, mọi thiết bị đều phải nhập khẩu. Đến năm 2030, nhu cầu than để sản xuất điện vào khoảng 130-150 triệu tấn; trong khi than nội địa chỉ đáp ứng tối đa 30-40 triệu tấn, chúng ta phải nhập khẩu than tới cả trăm triệu tấn. Vì vậy, cần đưa ra chiến lược dài hạn, hợp lý về xác định nguồn than nhập khẩu, phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành... để bảo đảm nguồn than cung cấp ổn định cho các nhà máy.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

VŨ TRÀ MY (thực hiện)


Sự kiện sắp diễn ra Sự kiện sắp diễn ra

1 2 3 ... 96 Next

Thư viện Media Thư viện Media

Không tìm thấy video nào

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

1 9 6 5 0 5
Đang online: 44
Hôm nay: 528
Trong tuần: 2503
Trong tháng: 16361